Thứ tư, ngày 21/11/2018
Hoạt động công thương | công thương trung ương | công thương địa phương
Những khó khăn và giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Hà Nam - 19/07/2018

Công nghiệp hỗ trợ có ý nghĩa vô cùng quan trọng cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của mỗi quốc gia, đặc biệt là ở những quốc gia đang phát triển như nước ta, đang đặt ra yêu cầu hình thành và phát triển một số ngành công nghiệp hiện đại, nhất là những ngành công nghiệp như sản xuất ô tô, xe máy; các sản phẩm điện, điện tử, điện lạnh,... Để đạt được yêu cầu đó, tất yếu phải thực hiện thành công việc nội địa hóa một cách cơ bản các ngành công nghiệp đó. Muốn vậy, phải phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ để các sản phẩm của nó thay thế dần, tiến tới thay thế hoàn toàn các sản phẩm nhập khẩu.

                     Xác định được vai trò quan trọng của việc phát triển công nghiệp hỗ trợ, trong thời gian qua Nhà nước đã ban hành hàng loạt văn bản nhằm đẩy mạnh việc phát triển công nghiệp hỗ trợ như: Nghị định số 111/NĐ-CP ngày 03/11/2015 của Chính phủ về phát triển công nghiệp hỗ trợ; Thông tư 55/2015/TT-BCT của Bộ Công Thương ngày 30/12/2015 về Quy định trình tự, thủ tục xác nhận ưu đãi và hậu kiểm ưu đãi đối với dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ thuộc Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển; Thông tư 21/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 5/2/2016 hướng dẫn về khai thuế GTGT và Ưu đãi thuế TNDN theo quy định tại Nghị định 111/2015/NĐ-CP; Thông tư 01/2016/TT-NHNN của Ngân hàng nhà nước Việt Nam ngày 04/02/2016 hướng dẫn chính sách cho vay phát triển công nghiệp hỗ trợ....

Trên địa bàn tỉnh Hà Nam, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã ban hành và triển khai thực hiện các chính sách về phát triển công nghiệp hỗ trợ: Nghị Quyết số 04-NQ/TU ngày 08/4/2016 về đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ, chế biến, chế tạo tạo nền tảng phát triển công nghiệp với tốc độ cao và bền vững giai đoạn 2016-2025; Kế hoạch số 990/KH-UBND ngày 12/5/2016 thực hiện NQ 04-NQ/TU của Tỉnh uỷ về đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ, chế biến, chế tạo tạo nền tảng phát triển công nghiệp với tốc độ cao và bền vững giai đoạn 2016-2025; Quyết định số 48/QĐ-UBND ngày 12/01/2016 về phê duyệt đề án đổi mới định hướng đầu tư phát triển giai đoạn 2016-2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Trong đó, lĩnh vực ưu tiên phát triển, thu hút đầu tư của tỉnh là các ngành công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao; Tỉnh đã tạo được mặt bằng sạch và cơ sở hạ tầng đồng bộ cho các doanh nghiệp đầu tư như có các khu công nghiệp và Cụm công nghiệp và đặc biệt có khu công nghiệp hỗ trợ Đồng Văn III với nhiều ưu đãi dành cho các nhà đầu tư thuộc ngành công nghiệp hỗ trợ; thực hiện nghiêm túc 10 cam kết của tỉnh đối với các nhà đầu tư; Đẩy mạnh các chương trình xúc tiến đầu tư trong và ngoài nước để chủ động thu hút các doanh nghiệp Nhật Bản, Hàn Quốc, doanh nghiệp lớn trong nước.... đầu tư vào thị trường Hà Nam. Nhờ những chính sách đó, tính đến nay toàn tỉnh đã thu hút được 106 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đi vào hoạt động (chủ yếu là các DN FDI; có 102 doanh nghiệp trong khu công nghiệp, 04 doanh nghiệp ngoài khu công nghiệp) với những sản phẩm chủ yếu là thiết bị điện, điện tử, hệ thống dây dẫn điện trong ô tô, màn hình cảm ứng,... như Công ty TNHH Seoul Semiconductor Vina, Công ty Cổ phần Vải địa kỹ thuật Việt Nam, Công ty TNHH JT Sensor Vina, Công ty TNHH Arai Việt Nam, Công ty TNHH KMW Việt Nam, Công ty TNHH Ace Antenna, Công ty TNHH Anam electronic Việt Nam...; Giá trị SXCN lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ năm 2017 đạt 16.576 tỷ đồng, tăng 15,1% so với năm 2016; chiếm 21,4 % tỷ trọng giá trị toàn ngành.

Ngoài kết quả đạt được, ngành công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn gặp một số khó khăn, vướng mắc: Các cơ chế, chính sách đối với ngành công nghiệp hỗ trợ mới ban hành, thiếu hướng dẫn và việc triển khai còn chậm; điều kiện ưu đãi đối với các Dự án thuộc Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ  ưu tiên phát triển quy định tại Nghị định và Thông tư này còn chưa cụ thể, chi tiết với các tiêu chí, điều kiện rõ ràng. Dẫn đến khó khăn trong công tác hậu kiểm ưu đãi; Sự liên kết giữa các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ với các doanh nghiệp sản xuất chính còn hạn chế, thiếu sự phối hợp liên kết giữa các nhà sản xuất công nghiệp hỗ trợ với nhau; Một số sản phẩm ghi trong Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển quy định tại Nghị định số 111/2015/NĐ-CP còn khá chung chung dẫn đến khó khăn cho các đơn vị quản lý nhà nước trong việc hướng dẫn, xác định các dự án được hưởng ưu đãi; Chưa có cơ sở dữ liệu ngành công nghiệp hỗ trợ; Năng lực tổ chức, quản lý và công nghệ của các doanh nghiệp còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu hợp tác kinh doanh với các doanh nghiệp sản xuất chính; Chưa triển khai được nguồn vốn đầu tư cho các doanh nghiệp có nhu cầu hỗ trợ; Nguồn nhân lực chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Để đạt được mục tiêu của Nghị quyết 04-NQ/TU ngày 08/4/2016 đề ra là giá trị sản xuất công nghiệp hỗ trợ năm 2020 đạt trên 20.000 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 25% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp, đến năm 2025 giá trị sản xuất công nghiệp hỗ trợ đạt trên 51.000 nghìn tỷ đồng chiếm tỷ trọng 30% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp các cấp, các ngành, địa phương và doanh nghiệp cần thực hiện tốt các giải pháp sau:

- Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, hướng dẫn các văn bản về công nghiệp hỗ trợ; rà soát nghiên cứu các cơ chế chính sách của Chính phủ, cụ thể hóa thành các cơ chế, chính sách riêng của tỉnh đối với công nghiệp hỗ trợ để phát huy các tiềm năng lợi thế, tạo môi trường đầu tư hấp dẫn, thúc đẩy phát triển doanh nghiệp sản xuất công nghiệp hỗ trợ.

- Tham mưu UBND tỉnh ban hành Quy định hỗ trợ cho doanh nghiệp phát triển công nghiệp hỗ trợtạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư phát triển; Tổ chức tốt công tác xúc tiến đầu tư để chọn được nhà đầu tư công nghiệp hỗ trợ có chất lương, hiệu quả.

- Phối hợp với các bộ phận, đơn vị liên quan xây dựng cơ sở dữ liệu ngành công nghiệp hỗ trợ của tỉnh nhằm giúp các doanh nghiệp có thông tin về nhau, thông tin về nguồn cung và nhu cầu sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, từ đó sẽ là cơ sở để kết nối các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ với nhau và với các doanh nghiệp sản xuất chính. Hỗ trợ cho việc thành lập và hoạt động một số trang web chuyên ngành công nghiệp hỗ trợ.      

Để ngành công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Hà Nam thực hiện tốt mục tiêu đề ra, đề nghị Bộ Công Thương, Ủy ban nhân dân tỉnh nghiên cứu cụ thể, chi tiết các sản phẩm tại Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển quy định tại Nghị định số 111/2015/NĐ-CP như sản phẩm hóa chất phục vụ nhuộm hoàn tất vải, linh kiện sản phẩm điện tử,… để các đơn vị quản lý nhà nước thuận tiện trong việc hướng dẫn, xác định các dự án được hưởng ưu đãi./.

 

Tin, bài mới hơn
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 8/2018 - 05/09/2018
Chỉ số công nghiệp tháng 7/2018 tiếp tục đà tăng trưởng khá - 27/07/2018
Công nghiệp hỗ trợ, chế biến, chế tạo tăng trưởng cao - 19/07/2018
Các tin, bài khác
Thu hút đầu tư vào KCN hỗ trợ Đồng Văn III - 27/06/2018
Nâng cấp lưới điện phục vụ doanh nghiệp trong khu công nghiệp - 27/06/2018
Triển khai kế hoạch giám sát hoạt động sử dụng vật liệu nổ công nghiệp - 27/06/2018
Nhiều điểm mới trong công tác quản lý an toàn thực phẩm - 12/04/2018
Hỗ trợ áp dụng công nghệ sản xuất tiên tiến vào trong dây chuyền sản xuất cho các cơ sở công nghiệp nông thôn tại các làng nghề. - 02/04/2018
Chỉ số sản xuất công nghiệp tỉnh Hà Nam quý I/2018 tăng 11,5% so cùng kỳ năm 2017. - 02/04/2018
Mời tham dự khoá đào tạo" Kỹ năng đàm phán trong kinh doanh quốc tế" - 16/12/2013
Mời tham dự “Hội thảo Quốc tế về Công nghiệp sáng tạo 2013” - 16/12/2013
Mời tham gia lớp tập huấn tìm hiểu các thông tin về thị trường Australia và Chile - 16/12/2013
Mời tham gia chương trình Hội thảo “Tiếp cận thị trường - Giao thương với các nhà nhập khẩu của Hàn Quốc” tại Hà Nội. - 16/12/2013
Liên kết các trang khác
Thư viện ảnh
Skip to main content